Nguồn Gốc Nén Nhang

Từ lâu, nén nhang đã trở thành linh vật thiêng liêng trong tín ngưỡng người Việt. Đối với nhiều người Việt, không chỉ ngày lễ, Tết, giỗ chạp, mà ngay khi đi xa về, hoặc khi sắp xuất hành, hay khi gặp niềm vui, sự buồn cũng thắp lên bàn thờ nén nhang để báo với Tiên tổ, cầu may mắn trong cuộc sống và bình an trong tâm hồn.

stock footage incense sticks with smoke against black background Nguồn Gốc Nén Nhang

Từ lâu, nén nhang đã trở thành linh vật thiêng liêng trong tín ngưỡng người Việt. Đối với nhiều người Việt, không chỉ ngày lễ, Tết, giỗ chạp, mà ngay khi đi xa về, hoặc khi sắp xuất hành, hay khi gặp niềm vui, sự buồn cũng thắp lên bàn thờ nén nhang để báo với Tiên tổ, cầu may mắn trong cuộc sống và bình an trong tâm hồn. Vậy nguồn gốc cũng như sự phát triển của nén nhang trong tín ngưỡng dân tộc Việt như thế nào? Qua nhiều biến động của lịch sử, sử sách có nhiều tư liệu bị thất truyền, ngay cả tại các làng nghề hương nhang, kinh nghiệm sản xuất hương nhang truyền thống cũng bị mai một và bị làm cho méo mó vì sự khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Trên con đường tìm lại nét văn hóa hương nhang truyền thống bản sắc Việt, Phụng Nghi đã dành nhiều thời gian và tâm huyết dựa vào các tư liệu lịch sử của Việt Nam và các nước khác, những chi tiết qua câu chuyện của các nghệ nhân cao tuổi tại các làng nghề từ Nam tới Bắc, với các vị cao tăng tại các đình chùa, cũng như các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca trong vốn cổ… Phụng Nghi ước mong làm sáng tỏ được nguồn gốc, giá trị của hương nhang Việt Nam và con đường phát triển của nén nhang trong tín ngưỡng dân tộc Việt.
Theo Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, cây nhang có nguồn gốc từ Tây vực, đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách.
Khi xưa, tục Tàu tế tôn miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ mà đốt cho thơm, chưa có đốt hương. Đến đời Vũ đế nhà Hán, vua sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây vực, thuộc Ấn Độ). Vua nước ấy đầu hàng, dâng một tượng thần bằng vàng cho vua Vũ đế đem về đặt trong cung Cam Toàn. Người nước Hồn Gia cũng tế thần không phải dùng đến trâu, bò mà chỉ đốt hương lễ bái. Từ đó, Trung Quốc mới có tục đốt hương.
Sách xưa còn chép rằng: Thứ sử Giao Châu – Trương Tân thường đốt hương ở Cát Lập tịnh xá để đọc đạo thư. Tục đốt nhang ở ta có lẽ bắt đầu từ đó. Rồi cùng với quá trình phát triển của đạo Phật, tập tục đốt nhang du nhập vào nước ta và ngày càng phổ biến. Vậy là nén nhang Việt Nam được du nhập từ bên Tàu, khi nước Tàu đô hộ rồi ghép nước ta (phần Bắc bộ ngày nay) cùng với một phần Quảng Tây và Quảng Đông hình thành Giao Châu.  Chúng tôi theo thuyết này của cụ Phan Kế Bính.
Ngoài ra còn có thuyết cho rằng nén nhang được du nhập vào Việt Nam qua con đường Phật giáo. Phụng Nghi có thu thập nhiều luận chứng lịch sử rút ra được khi so chiếu giữa sử Trung Quốc và sử Việt Nam- và cơ sở tập tục tín ngưỡng trong dân gian nước Việt, cho thấy thuyết đầu tiên có lý lẽ chặt chẽ hơn cả.
Ví dụ như theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chương 4): Năm Quý Mùi (203) (năm Kiến An thứ 8 nhà Hán ở Trung Quốc) thứ sử Trương Tân và thái thú Sĩ Nhiếp cùng nhau dâng biểu xin lập Giao Chỉ làm châu, nhà Hán mới đặt Giao Chỉ làm Giao Châu; Giao Châu được ngang hàng với các châu khác ở Trung Quốc, và phong Trương Tân làm quan mục ở Giao Châu. Còn theo Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 3, có chép: Thái thú Sĩ Nhiếp lâm bệnh, chết đã ba ngày, lại được một đạo nhân là Đổng Phụng đến cho thuốc cải tử hoàn sinh. Lại chép việc Thứ sử Trương Tân (sang Giao Châu từ năm 201) hay đội khăn đỏ, đọc kinh sách Đạo giáo.
Trong khi một số thiên truyện ký của các Tăng sĩ Việt Nam viết từ thế kỷ Xlll và XlV có chép: Chính đời nhà Hán thế kỷ thứ 2 và thứ 3 đã có các đạo sĩ ở Bắc như Ngài Ma Ha Kỳ Vực (Marijivakạ), Khương Tăng Hội (K’ang Seng Houei) và Mâu Bác (Méou Pô). Còn theo truyện Đàm Thuyên Pháp sư có chép: Vào thời Vua Cao Tổ nhà Tùy của Trung Hoa (trị vì từ năm 581 đến 604), Việt Nam đã có 20 ngọn bảo tháp và hơn 500 Tăng sĩ, dịch được hơn 15 bộ kinh rồi. Theo sách Pháp Vụ Thực Lục: Vào thế kỷ thứ 3 một người Ấn Độ tên là Kaudra đã qua Việt Nam một lần với Ngài Ma Ha Kỳ Vực để truyền đạo. Theo những sử liệu trên cho chúng ta rõ: Đạo Phật Việt Nam đã có từ đời nhà Hán bên Tàu vào cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3 và những vị truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam là Ngài Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, và Mâu Bác. Trong số 4 vị nầy chỉ có Ngài Mâu Bác là người Tàu, còn 3 vị kia đều là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác là người truyền Phật giáo đầu tiên ở đất Giao Châu vào năm 189 sau Tây lịch. Vậy ta có thể kết luận rằng: Phật giáo du nhập ở nước Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ II. Nhưng cho mãi tới năm Cao Tổ nhà Tùy (Trung Hoa- năm 581 đến 604): tức là khoảng 300 năm sau mới có 20 ngọn bảo tháp và 500 tăng sĩ. Phật giáo- theo nhiều nhà sử học- mới có sự thăng hoa và trở thành quốc đạo ở Việt Nam bắt đầu từ triều Lý (được thiết lập vào những năm đầu thế kỷ 11 với vị vua đầu tiên là vua Lý Công Uẩn, một người đã từng là một nhà tu hành Phật giáo).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>